TCVN 12850:2019 và 4 nguyên tắc truy xuất nguồn gốc: nhận diện, thu thập, chia sẻ, sử dụng dữ liệu

TCVN 12850:2019 không khó như văn bản pháp lý khiến nó trông có vẻ vậy. Bài này giải thích 4 nguyên tắc nhận diện - thu thập - chia sẻ - sử dụng dữ liệu bằng ví dụ thật, kèm bài tự kiểm tra để biết doanh nghiệp đang đứng ở đâu.

VNCX Team13 tháng 09, 202613 phút đọc
TCVN 12850:2019 và 4 nguyên tắc truy xuất nguồn gốc: nhận diện, thu thập, chia sẻ, sử dụng dữ liệu

Câu chuyện bắt đầu từ một email của khách hàng xuất khẩu

Cách đây không lâu, một xưởng chế biến hạt điều ở Bình Phước nhắn hỏi tôi một câu rất cụ thể: "đối tác Hà Lan yêu cầu hệ thống truy xuất nguồn gốc của bên em phải đáp ứng TCVN 12850, vậy cụ thể là đáp ứng cái gì?". Tôi mở tiêu chuẩn ra đọc lại, rồi lên Google gõ đúng câu họ đang thắc mắc. Kết quả trả về là một mớ hỗn độn: bài thì nói TCVN 12850:2019 có 4 nguyên tắc là "một bước trước - một bước sau", "sẵn có phần tử dữ liệu chính", "minh bạch", "tham gia đầy đủ các bên"; bài khác lại nói nguyên tắc cốt lõi là "nhận diện - thu thập - chia sẻ", chỉ có ba, không thấy nhắc gì đến sử dụng dữ liệu. Không ai giải thích rõ vì sao lại có hai bộ "4 nguyên tắc" khác nhau cho cùng một tiêu chuẩn, và cũng không ai nói được nguyên tắc thứ tư trong bộ "nhận diện - thu thập - chia sẻ - sử dụng" thực chất là làm gì.

Bài viết này viết ra chính để trả lời câu hỏi đó một cách rõ ràng, và quan trọng hơn là để một người quản lý sản xuất - không phải luật sư, không phải chuyên viên tiêu chuẩn hóa - đọc xong biết mình cần làm gì tuần tới.

TCVN 12850:2019 là gì, và vì sao nó không phải hàng "cây nhà lá vườn"

TCVN 12850:2019 - Truy xuất nguồn gốc - Yêu cầu chung đối với hệ thống truy xuất nguồn gốc, do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố năm 2019, không phải một sáng kiến nghĩ ra riêng cho thị trường Việt Nam. Nó được xây dựng dựa trên khung Global Traceability Standard (GTS) của GS1 - tổ chức đứng sau mã vạch, mã GTIN, mã địa điểm GLN mà gần như mọi siêu thị, nhà máy, hãng vận tải trên thế giới đang dùng chung một ngôn ngữ. Nói cách khác, khi một tiêu chuẩn Việt Nam "nói cùng ngôn ngữ" với GS1, nghĩa là hệ thống truy xuất của doanh nghiệp bạn, nếu làm đúng, sẽ ghép được với hệ thống của đối tác nước ngoài mà không phải làm lại từ đầu. Đó là lý do khách hàng châu Âu, khi soạn hợp đồng, thường trỏ thẳng vào TCVN 12850 thay vì tự đặt ra một bộ yêu cầu riêng.

Cái hay - và cũng là cái gây rối - là tiêu chuẩn gốc GS1 dùng cách gọi "Identify - Capture - Share - Use" (định danh - thu thập - chia sẻ - sử dụng), trong khi các văn bản diễn giải TCVN 12850 bằng tiếng Việt lại có xu hướng trích một đoạn khác của chuẩn nói về yêu cầu kỹ thuật (một bước trước - một bước sau, phần tử dữ liệu chính, minh bạch, sự tham gia đầy đủ) rồi gọi nhầm đó là "4 nguyên tắc". Hai bộ này không mâu thuẫn nhau, chúng chỉ ở hai tầng khác nhau: bộ nhận diện - thu thập - chia sẻ - sử dụng là vòng đời vận hành của dữ liệu truy xuất, còn bộ kia là các yêu cầu kỹ thuật để vòng đời đó chạy đúng. Hiểu được điều này, phần còn lại của tiêu chuẩn tự nhiên hết rối.

Nguyên tắc 1: Nhận diện - biết mình đang nói về cái gì

Nhận diện (identify) là việc gán một mã định danh duy nhất cho ba cấp đối tượng: loại sản phẩm, lô hoặc mẻ sản xuất, và đơn vị đơn lẻ nếu cần truy đến từng chiếc. Nghe đơn giản, nhưng đây chính là chỗ phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vấp ngã đầu tiên.

Xưởng hạt điều tôi nhắc ở trên, trước khi làm truy xuất, in bao bì chỉ có tên sản phẩm và ngày đóng gói viết tay bằng bút lông. Không có mã lô. Hậu quả là khi một lô hàng bị khách phàn nàn có mùi lạ, họ không thể khoanh vùng lô nào bị ảnh hưởng - phải thu hồi toàn bộ hàng tồn kho của cả tháng để kiểm tra lại, tốn kém gấp hàng chục lần so với việc chỉ thu hồi đúng một lô. Nhận diện đúng nghĩa là: mỗi lô nguyên liệu đầu vào, mỗi mẻ chế biến, mỗi lô thành phẩm phải có một mã số duy nhất, không trùng, không tái sử dụng, và mã đó phải xuất hiện xuyên suốt từ phiếu nhập kho, lệnh sản xuất, đến tem dán trên bao bì cuối cùng.

Một sai lầm phổ biến khác: đổi cấu trúc mã theo thời gian mà không lưu lại lịch sử đổi mã. Ba năm sau, khi cơ quan chức năng hoặc khách hàng hỏi về một lô hàng cũ, không ai còn nhớ mã đó thuộc quy ước nào.

Nguyên tắc 2: Thu thập dữ liệu - ghi lại đúng lúc, không phải ghi lại cho có

Thu thập (capture) là việc ghi nhận các sự kiện theo dõi trọng yếu - trong tiếng ngành gọi là CTE (critical tracking event) - cùng với các phần tử dữ liệu chính (KDE) đi kèm mỗi sự kiện đó. Về bản chất, mỗi lần một lô hàng đổi trạng thái hoặc đổi vị trí - nhận nguyên liệu, sơ chế, đóng gói, nhập kho, xuất kho, giao vận - hệ thống phải trả lời được năm câu hỏi: ai làm, làm cái gì, ở đâu, khi nào, và tại sao (hoặc theo quy trình nào).

Điểm mà tiêu chuẩn nhấn khá mạnh nhưng ít bài viết nói rõ là tính kịp thời. Ghi chép đúng nội dung nhưng ghi trễ ba ngày, gộp sổ tay cuối tuần rồi nhập máy tính, vẫn không đạt yêu cầu, vì tại thời điểm cần tra cứu khẩn (ví dụ có khiếu nại về an toàn thực phẩm), dữ liệu chưa tồn tại trong hệ thống. Tôi từng thấy một nhà máy có sổ ghi chép rất đầy đủ, chữ đẹp, đóng dấu giáp lai đàng hoàng - nhưng khi kiểm tra thực tế, sổ được ghi lại vào cuối ca từ trí nhớ, không phải ghi tại chỗ. Về giấy tờ thì có vẻ hợp lệ, về bản chất thì dữ liệu không đáng tin.

Giải pháp thực tế nhất mà tôi thấy hiệu quả là gắn việc ghi nhận vào chính công việc đang làm: công nhân quét mã QR trên bao bì nguyên liệu khi nhận hàng, quét lại khi đóng gói thành phẩm, thay vì phải nhớ để điền vào một biểu mẫu riêng sau đó. Ghi nhận trở thành một bước của quy trình, không phải một việc làm thêm.

Nguyên tắc 3: Chia sẻ dữ liệu - ai cần biết, và biết đến đâu

Chia sẻ (share) là nguyên tắc yêu cầu doanh nghiệp xác định rõ: thông tin truy xuất nào được chia sẻ, chia sẻ với ai, bằng cách nào, và ai được phép xem đến mức chi tiết nào. Ba nhóm cần nhận dữ liệu thường là: đối tác liền kề trong chuỗi (nhà cung cấp phía trước, nhà phân phối phía sau - nguyên tắc GS1 gọi là "một bước trước, một bước sau"), cơ quan quản lý khi có yêu cầu kiểm tra, và người tiêu dùng cuối.

Đây là nguyên tắc mà rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam làm nửa vời: có dữ liệu nội bộ đầy đủ, nhưng không có cách nào để bên ngoài tra cứu được. Không có trang truy xuất công khai, không có API cho đối tác đối soát, tất cả nằm trong file Excel trên máy một nhân viên. Về lý thuyết hệ thống "có truy xuất", về thực tế không ai bên ngoài chạm được vào dữ liệu đó ngoài lời hứa miệng.

Cách làm đúng theo tinh thần TCVN 12850 và cũng là cách GS1 khuyến nghị: mỗi lô sản phẩm có một mã QR chuẩn GS1 Digital Link, quét ra một trang truy xuất công khai cho người tiêu dùng xem được nguồn gốc, ngày sản xuất, cơ sở chế biến; đồng thời có một lớp dữ liệu chi tiết hơn (theo chuẩn EPCIS) chia sẻ riêng cho đối tác trong chuỗi và cơ quan quản lý khi cần đối soát hoặc điều tra sự cố. Minh bạch không có nghĩa là công khai tuyệt đối mọi thứ cho tất cả mọi người - nó có nghĩa là đúng người, đúng mức, đúng lúc.

Nguyên tắc 4: Sử dụng dữ liệu - phần gần như không ai giải thích

Đây là chỗ tôi để công sức nhiều nhất khi viết bài này, vì tra khắp các nguồn tiếng Việt hiện có, gần như không nơi nào định nghĩa rõ nguyên tắc thứ tư này là gì - phần lớn dừng lại ở ba nguyên tắc đầu rồi bỏ ngỏ. Trong khung GTS gốc của GS1 mà TCVN 12850 tham chiếu, "use" là bước dữ liệu truy xuất được truy vấn và khai thác trở lại để phục vụ mục đích thực tế, chứ không phải chỉ nằm im trong kho lưu trữ chờ thanh tra.

Cụ thể, sử dụng dữ liệu bao gồm ba tình huống chính. Một là truy vấn phục vụ thu hồi sản phẩm: khi có sự cố, hệ thống phải trả lời trong vài phút, chứ không phải vài ngày, câu hỏi "lô nguyên liệu X đã đi vào những lô thành phẩm nào, và những lô đó đã bán cho ai". Hai là phục vụ đối soát và kiểm toán nội bộ: dùng dữ liệu đã thu thập để phát hiện bất thường, ví dụ một lô hàng có thời gian giữa các công đoạn dài bất thường, gợi ý có vấn đề về bảo quản. Ba là phục vụ cải tiến quy trình và báo cáo hợp quy: tổng hợp dữ liệu theo thời gian để biết công đoạn nào hay phát sinh lỗi, hoặc xuất báo cáo cho khách hàng, cơ quan chứng nhận mà không phải làm thủ công từng lần.

Một doanh nghiệp có thể làm rất tốt ba nguyên tắc đầu - mã hóa sản phẩm gọn gàng, ghi chép đầy đủ, có cả trang tra cứu công khai - nhưng nếu chưa từng một lần thử diễn tập thu hồi thực tế bằng chính dữ liệu đó, thì nguyên tắc thứ tư coi như chưa đạt. Dữ liệu tồn tại không đồng nghĩa với dữ liệu dùng được.

Bài tự kiểm tra nhanh cho doanh nghiệp

Để biết hệ thống của mình đang đứng ở đâu so với bốn nguyên tắc, tôi thường đưa khách hàng bốn câu hỏi sau, trả lời trung thực trong năm phút. Mỗi lô sản phẩm xuất xưởng có một mã số duy nhất, xuất hiện xuyên suốt từ nguyên liệu đến bao bì cuối, hay không. Dữ liệu về mỗi công đoạn được ghi nhận ngay tại thời điểm xảy ra, hay được gộp lại ghi bù sau đó. Có một kênh mà đối tác hoặc người tiêu dùng có thể tự tra cứu nguồn gốc mà không cần gọi điện hỏi nhân viên, hay không. Và câu quan trọng nhất: nếu ngày mai có một lô hàng bị khiếu nại, có thể khoanh vùng chính xác lô bị ảnh hưởng và danh sách khách đã nhận trong bao lâu.

Nếu câu trả lời cho cả bốn câu đều là có, và câu cuối trả lời được trong vài phút chứ không phải vài ngày, hệ thống đang bám khá sát tinh thần TCVN 12850:2019, dù trên giấy tờ có được chứng nhận hay chưa.

TCVN 12850:2019 có bắt buộc áp dụng không

Câu này khách hàng hỏi tôi nhiều gần như ngang với câu về 4 nguyên tắc, và câu trả lời thường làm họ bất ngờ: về bản chất pháp lý, TCVN là tiêu chuẩn quốc gia, tự nguyện áp dụng theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, không đương nhiên bắt buộc như một quy chuẩn (QCVN) hay nghị định. Nhưng tự nguyện trên giấy không có nghĩa là tùy chọn trên thực tế. TCVN 12850 trở thành bắt buộc trên thực tế trong ít nhất bốn trường hợp: khi hợp đồng xuất khẩu dẫn chiếu thẳng đến nó như điều kiện giao hàng, khi tham gia hồ sơ đấu thầu hoặc chương trình OCOP có yêu cầu truy xuất nguồn gốc, khi hệ thống siêu thị hoặc chuỗi bán lẻ đặt ra như điều kiện đưa hàng vào kệ, và khi một quy chuẩn hoặc nghị định chuyên ngành khác dẫn chiếu ngược lại tiêu chuẩn này. Nói cách khác, hỏi "có bắt buộc không" ít quan trọng hơn hỏi "đối tác nào của mình đang yêu cầu nó, và họ yêu cầu đến mức nào".

Từ tiêu chuẩn trên giấy đến hệ thống chạy thật

Bốn nguyên tắc đọc thì rõ ràng, nhưng dựng một hệ thống đáp ứng đủ cả bốn bằng tay - sổ sách, Excel, tem in rời rạc - gần như chắc chắn sẽ hụt hơi ở nguyên tắc thứ hai hoặc thứ tư, vì thu thập kịp thời và truy vấn nhanh là hai việc con người làm thủ công rất khó bền. Đây cũng là lý do các nền tảng truy xuất dựa trên mã QR chuẩn GS1 tồn tại: mã định danh theo đúng cấu trúc GTIN và mã lô giải quyết nguyên tắc nhận diện; quét mã tại từng công đoạn giải quyết nguyên tắc thu thập đúng lúc; trang tra cứu công khai cùng dữ liệu chia sẻ theo chuẩn EPCIS giải quyết nguyên tắc chia sẻ; còn công cụ thống kê, cảnh báo bất thường và mô phỏng thu hồi giải quyết đúng nguyên tắc thứ tư mà phần lớn tài liệu bỏ sót. Việc thêm một lớp xác thực không thể sửa được, kiểu như neo dữ liệu vào blockchain, không phải để "cho oai" mà để trả lời thêm một câu hỏi liên quan trực tiếp đến nguyên tắc minh bạch: dữ liệu chia sẻ ra ngoài có bị chỉnh sửa sau khi công bố hay không.

Quay lại xưởng hạt điều ở đầu bài: sau khi làm lại từ nguyên tắc nhận diện - đổi từ ghi tay sang mã lô in sẵn, gắn với quét mã ở ba điểm chốt trong dây chuyền - thời gian họ cần để trả lời một khiếu nại từ đối tác giảm từ vài ngày dò sổ sách xuống còn vài phút tra hệ thống. Không phải vì họ mua phần mềm đắt tiền, mà vì họ làm đúng thứ tự bốn nguyên tắc, không bỏ sót nguyên tắc cuối cùng như hầu hết tài liệu vẫn đang bỏ sót.

#TCVN 12850:2019#truy xuất nguồn gốc#GS1#tiêu chuẩn quốc gia#QR code

Bài viết liên quan

Cần tư vấn giải pháp cho doanh nghiệp?

Đội ngũ VNCX sẵn sàng hỗ trợ bạn triển khai truy xuất nguồn gốc