Truy xuất nguồn gốc trứng gia cầm: mã lô theo ngày đẻ, in mã lên vỏ trứng và dữ liệu từ trại đến siêu thị

Cách đặt mã lô trứng theo ngày đẻ và chuồng nuôi, nên in gì lên vỏ trứng, khay và thùng, và những dữ liệu cần ghi ở từng chặng từ trại, trạm phân loại, kho đến siêu thị, theo Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT và các thông lệ EU, Anh, Đài Loan.

VNCX Team18 phút đọc
Truy xuất nguồn gốc trứng gia cầm: mã lô theo ngày đẻ, in mã lên vỏ trứng và dữ liệu từ trại đến siêu thị

Để truy xuất nguồn gốc trứng gia cầm, mỗi lô nên được định danh bằng một mã gồm cơ sở nuôi, chuồng hoặc đàn và ngày đẻ. Mã này phải theo trứng qua từng lớp: in trên vỏ quả trứng, mã QR trên khay hoặc hộp, rồi mã thùng và pallet. Ở mỗi chặng, từ trại đến trạm phân loại, kho và siêu thị, cơ sở phải ghi lại nhận từ ai, giao cho ai, số lượng bao nhiêu và vào thời điểm nào.

Truy xuất nguồn gốc trứng gia cầm là gì?

Truy xuất nguồn gốc trứng là khả năng lần theo một quả trứng, hoặc một hộp trứng, về đúng đàn gà, vịt đã đẻ ra nó, ngày đẻ, nơi phân loại và đóng gói, cũng như đường đi qua các khâu phân phối. Chiều ngược lại cũng phải làm được: từ một đàn có vấn đề, xác định nhanh lượng trứng đã đi đến những cửa hàng nào.

Trứng khác nhiều loại thực phẩm khác ở chỗ sản phẩm bán ra chưa qua chế biến, vẫn nguyên vỏ, và rất dễ bị trộn lẫn. Chỉ một lần dồn trứng của nhiều chuồng, nhiều ngày vào chung một băng chuyền là chuỗi thông tin bị đứt. Vì vậy, quan trọng nhất là cách đặt mã lô ngay từ trại. Công nghệ in hay phần mềm đứng sau chuyện đó.

Quy định Việt Nam hiện nay yêu cầu những gì?

Với trứng là sản phẩm nông sản thực phẩm, khung pháp lý trực tiếp là Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT quy định về truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn. Thông tư do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 20/12/2021, có hiệu lực từ 02/02/2022. Tính đến 10/10/2026, các nguồn đã tra cứu vẫn ghi văn bản còn hiệu lực. Lưu ý thêm: Nghị định 372/2026/NĐ-CP về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có hiệu lực từ 01/01/2027, nên khung pháp lý về truy xuất sẽ còn thay đổi. Bộ này nay đã hợp nhất thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nên doanh nghiệp vẫn nên kiểm tra lại trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật trước khi lập hồ sơ.

Điều 3 của Thông tư định nghĩa nguyên tắc một bước trước – một bước sau, và Điều 4 yêu cầu cơ sở truy xuất theo nguyên tắc này. Mỗi cơ sở phải biết mình nhận hàng từ ai và giao hàng cho ai. Điều 6 khoản 1 liệt kê thông tin tối thiểu phải lưu, chia làm ba nhóm:

  • Lô hàng nhận vào: tên và địa chỉ cơ sở cung cấp; thời gian và địa điểm giao nhận; tên, chủng loại, khối lượng và mã nhận diện lô.
  • Lô hàng sản xuất: thông tin lô tại từng công đoạn, gồm thời gian sản xuất, tên/chủng loại, khối lượng và mã nhận diện lô/mẻ.
  • Lô hàng giao đi: tên và địa chỉ cơ sở tiếp nhận; thời gian, địa điểm giao; thông tin sản phẩm.

Theo Điều 6, nếu sản phẩm có ghi hạn sử dụng (như hộp trứng) thì hồ sơ phải lưu tối thiểu 12 tháng kể từ ngày hết hạn; nếu không bắt buộc ghi hạn sử dụng thì lưu 6 tháng với thực phẩm tươi sống và 2 năm với thực phẩm đông lạnh, chế biến, tính từ ngày sản xuất. Doanh nghiệp nên đối chiếu nguyên văn điều này với loại trứng mình kinh doanh (trứng tươi hay trứng đã chế biến như trứng muối, trứng bắc thảo). Điều 7 mô tả trình tự truy xuất: xác định lô qua hồ sơ, tổng hợp thông tin, nhận diện các công đoạn liên quan đến lô, rồi lập báo cáo.

Về nhãn, Nghị định 37/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa có hiệu lực từ 23/01/2026. Nghị định này thay các văn bản cũ về nhãn hàng hóa và mã số mã vạch. Theo phân tích của các hãng luật, điểm thay đổi đáng chú ý với thực phẩm là nghĩa vụ ghi ngày sản xuất, cùng khả năng dùng nhãn điện tử hoặc mã QR để thay một phần nhãn vật lý. Với thực phẩm, các thông tin trọng yếu vẫn phải nằm trên nhãn vật lý. Có nghĩa là mã QR trên hộp trứng chỉ bổ sung cho nhãn, không thay được nhãn.

Có một điểm nhiều bài viết bỏ qua: tính đến 10/10/2026, trong các văn bản đã rà soát, Việt Nam chưa có quy định bắt buộc in mã lên từng quả trứng như EU hay Đài Loan. In mã lên vỏ hiện vẫn là lựa chọn tự nguyện của doanh nghiệp, hoặc là yêu cầu riêng của nhà bán lẻ. Còn nghĩa vụ pháp lý nằm ở hồ sơ truy xuất một bước trước – một bước sau và ở nhãn trên bao bì. Về chất lượng, TCVN 1858:2018 về trứng gà (thay TCVN 1858:1986) phân hạng trứng gà thương phẩm theo ba mức chất lượng. Đây là tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng, nhưng thường được dùng làm căn cứ khi doanh nghiệp công bố hạng trứng trên bao bì.

Nên đặt mã lô trứng theo ngày đẻ như thế nào?

Một lô trứng nên là tập hợp trứng đồng nhất về nguồn gốc và thời điểm: cùng cơ sở nuôi, cùng chuồng hoặc dãy chuồng (cũng là cùng đàn), cùng ngày đẻ. Nếu trại thu trứng nhiều lần trong ngày và các lần thu có điều kiện khác nhau, có thể thêm ca thu. Lô càng hẹp thì phạm vi thu hồi khi có sự cố càng nhỏ, đổi lại khâu ghi chép cũng nặng hơn.

Ví dụ về một cấu trúc mã dễ đọc: T01-C03-261009-S, trong đó T01 là mã trại, C03 là chuồng số 3, 261009 là ngày đẻ 09/10/2026 viết theo dạng năm-tháng-ngày, S là ca sáng. Viết ngày theo năm-tháng-ngày giúp sắp xếp đúng thứ tự thời gian, đồng thời khớp với cách GS1 mã hóa ngày (YYMMDD).

Thực tế, người ta hay nhầm ngày đẻ với ngày đóng gói. Trứng có thể nằm ở kho trại một hai ngày rồi mới về trạm phân loại. Nếu chỉ ghi ngày đóng gói, bạn mất mốc tính tuổi trứng, trong khi đây là căn cứ để tính hạn dùng. EU và Anh tính các mốc hạn từ ngày đẻ (Đài Loan thì in ngày đóng gói trên vỏ). Tại Anh, hạn "best before" không được quá 28 ngày kể từ ngày đẻ, trứng phải đến tay người mua trong vòng 21 ngày kể từ ngày đẻ, và nhãn "extra fresh" chỉ được dùng đến ngày thứ 9 sau khi đẻ. Quy định của EU (Delegated Regulation (EU) 2023/2465, Điều 6) yêu cầu trứng loại A được phân loại, in mã và đóng gói trong vòng 10 ngày kể từ ngày đẻ. Doanh nghiệp Việt Nam không bắt buộc theo các mốc này, nhưng có thể tham khảo chúng khi tự xác định hạn sử dụng.

Các điểm cần chốt trong quy trình nội bộ:

Tình huốngRủi ro mất dấuCách xử lý mã lô
Trứng thu nhiều ngày gom về một lầnMột hộp chứa trứng của nhiều ngày đẻGiữ khay tách theo ngày tại kho trại, mỗi khay mang phiếu lô; không dồn trước khi phân loại
Dồn trứng nhiều chuồng lên một băng chuyềnKhông biết quả nào của đàn nàoChạy theo từng lô, ghi thời điểm bắt đầu và kết thúc mỗi lô trên máy phân loại
Trứng mua thêm từ trại vệ tinhMã lô của nhà cung cấp không khớp hệ thốngGán mã lô nhận mới nhưng lưu kèm mã lô gốc của trại vệ tinh
Trứng loại (dập, bẩn, lệch cỡ) chuyển đi chế biếnĐường đi của trứng loại không được ghiGhi thành một lô giao riêng, có bên nhận và khối lượng
Gộp nhiều lô vào một palletThu hồi phải kéo cả palletMã pallet phải liệt kê đầy đủ các lô con bên trong

In mã lên vỏ trứng: in gì và in ở đâu?

Vỏ trứng có diện tích nhỏ, cong, và có thể còn ẩm sau khi rửa, nên chỉ in được vài ký tự ngắn. Các nước làm bắt buộc thường chỉ in một mã ngắn trên vỏ, còn thông tin đầy đủ nằm ở bao bì và hệ thống dữ liệu.

  • EU và Anh: mã nhà sản xuất gồm một chữ số chỉ phương thức nuôi (0 là hữu cơ, 1 là thả vườn, 2 là nuôi nền trong chuồng, 3 là nuôi lồng), mã quốc gia và số định danh cơ sở. Ví dụ 3UK12345 là trứng gà nuôi lồng từ cơ sở số 12345 tại Anh. Tại Anh, các trại dưới 50 con bán trực tiếp tại chợ địa phương được miễn in mã.
  • Đài Loan: từ 01/01/2022, trứng đã rửa bán tại cửa hàng tiện lợi, siêu thị, đại siêu thị, nhà bán sỉ và sàn thương mại điện tử phải in mã gồm ký hiệu kiểu chuồng nuôi, ngày đóng gói và thông tin vị trí trại. Người tiêu dùng tra cứu nguồn gốc qua một trang web chuyên dụng.

Từ những mô hình này, doanh nghiệp Việt Nam có thể phân tầng như sau:

Cấp đóng góiNên in gìHình thứcMục đích
Vỏ trứngMã cơ sở + ngày đẻ (hoặc mã lô rút gọn), có thể thêm ký hiệu phương thức nuôiIn phun mực thực phẩm trên máy phân loạiNhận diện quả trứng đã rời khỏi hộp; chống đánh tráo
Khay, hộp bán lẻTên sản phẩm, hạng, cỡ, ngày đẻ hoặc ngày sản xuất, hạn sử dụng, mã lô, mã QR, mã vạch GTINIn trên nhãn hoặc in trực tiếpNhãn pháp lý, quét tại quầy, người mua tra cứu
Thùng cartonGTIN của thùng, mã lô, ngày đóng gói, hạn sử dụngNhãn GS1-128Nhận hàng tại kho, đối soát
PalletSSCC, danh sách lô conNhãn logistics GS1Giao nhận, thu hồi chính xác

Khi in trên vỏ, nên in sau khâu rửa và làm khô và trước khi xếp khay, tức là tích hợp ngay vào máy phân loại để việc in khớp với lô đang chạy. Mực phải là loại dùng được cho tiếp xúc thực phẩm. Mã trên vỏ phải khớp chính xác với mã lô trên hộp. Nếu máy in và hệ thống quản lý lô không đồng bộ, quả trứng sẽ mang ngày đẻ sai, và như vậy còn nguy hiểm hơn là không in gì.

Mã QR và GS1 nối các lớp mã với nhau thế nào?

Một quả trứng chỉ mang được mã ngắn. Cái nối mã ngắn đó với toàn bộ hành trình là các định danh chuẩn GS1 trên bao bì. Những định danh ứng dụng (Application Identifier) hay dùng cho trứng gồm:

AIÝ nghĩaDùng cho trứng
(01)GTIN – mã thương phẩmPhân biệt sản phẩm: hộp 10 quả cỡ M, khay 30 quả…
(10)Số lôMã lô theo trại, chuồng, ngày đẻ
(11)Ngày sản xuấtCó thể dùng để ghi ngày đẻ
(13)Ngày đóng góiNgày qua trạm phân loại
(15)Hạn dùng tốt nhất (best before)Hạn sử dụng ghi trên hộp
(00)SSCC – mã đơn vị logisticsĐịnh danh pallet hoặc thùng gửi đi

GTIN chỉ cho biết đây là loại sản phẩm nào. Phải kết hợp GTIN với số lô (10), với các ngày (11), (13), (15) thì dữ liệu mới truy xuất được tới từng lô. Một mã QR theo chuẩn GS1 Digital Link trên hộp trứng vì vậy có thể được máy quét 2D ở quầy thanh toán đọc (nếu quầy đã hỗ trợ), đồng thời đưa người mua đến trang thông tin của đúng lô đó. Ở chiều logistics, nhãn SSCC trên pallet được liên kết với danh sách lô bên trong. Khi một lô có vấn đề, nhà phân phối chỉ cần chặn đúng các pallet và hộp liên quan.

Để trao đổi dữ liệu giữa trại, trạm phân loại, nhà phân phối và chuỗi bán lẻ, chuẩn GS1 EPCIS ghi mỗi sự kiện (thu trứng, phân loại, đóng gói, xuất kho, nhận hàng) theo cùng một khuôn: cái gì, khi nào, ở đâu, vì sao. Các nền tảng truy xuất như VNCX dùng chính cách tiếp cận này để nối mã lô theo ngày đẻ với mã QR trên hộp và hành trình phân phối, nhờ đó mỗi bên trong chuỗi không phải giữ một sổ ghi chép riêng lệch nhau.

Cần ghi những thông tin gì từ trại đến siêu thị?

Bảng dưới đây áp nguyên tắc một bước trước – một bước sau của Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT vào chuỗi trứng cụ thể. Các trường in đậm là phần bám theo Điều 6 khoản 1, phần còn lại là dữ liệu nên có để truy xuất được nhanh và chính xác.

ChặngNhận từ (một bước trước)Dữ liệu trong khâuGiao cho (một bước sau)
Trại nuôiNguồn con giống, thức ăn, thuốc thú y: nhà cung cấp, ngày nhận, số lôMã chuồng hoặc đàn, tuổi đàn, ngày đẻ, ca thu, số quả thu, lịch tiêm phòng và thuốc đã dùng (kèm thời gian ngưng thuốc)Trạm phân loại: thời gian giao, số khay, mã lô
Trạm phân loại, đóng góiTrại: tên, địa chỉ, thời gian nhận, mã lô, số lượngThời điểm chạy từng lô, số quả theo hạng và cỡ, số trứng loại, mã in trên vỏ, ngày đóng gói, hạn sử dụngKho hoặc nhà phân phối: mã thùng, mã pallet, số lượng
Kho, nhà phân phốiTrạm đóng gói: SSCC, các lô bên trong, thời gian nhậnNhiệt độ bảo quản, vị trí lưu kho, tách hoặc gộp palletCửa hàng hoặc siêu thị: phiếu giao, lô, số lượng
Siêu thị, cửa hàngNhà phân phối: phiếu giao, mã lô, hạn sử dụngNgày lên kệ, ngày hạ kệ, số lượng hủy hoặc trảNgười tiêu dùng (không cần định danh từng người)

Với nhà bán lẻ, thường chỉ cần mã lô và hạn sử dụng trên hộp khớp với phiếu giao. Khó nhất là chặng giữa, ở trạm phân loại, nơi một lô vào có thể tách thành nhiều GTIN theo cỡ và hạng, rồi nhiều lô lại gộp chung một pallet. Nếu sổ sách ở đây chỉ ghi tổng số lượng trong ngày thì chuỗi truy xuất đứt ngay giữa đường.

Khi cần thu hồi, mã lô theo ngày đẻ giúp gì?

Giả sử phát hiện một đàn mắc bệnh, hoặc mẫu kiểm nghiệm của một chuồng không đạt. Nếu lô được định danh theo chuồng và ngày đẻ, doanh nghiệp đi xuôi chuỗi theo các bước sau:

  1. Xác định các ngày đẻ bị ảnh hưởng của chuồng đó, ví dụ ba ngày gần nhất.
  2. Tra ở trạm phân loại xem các lô ấy đã vào những GTIN nào, thùng nào, pallet nào.
  3. Tra phiếu giao để biết các pallet đã đến kho và cửa hàng nào.
  4. Thông báo cho từng điểm bán chặn đúng các hộp mang mã lô bị ảnh hưởng. Người mua có thể so mã in trên vỏ hoặc trên hộp với thông báo.

Nếu mã lô chỉ là "ngày đóng gói" của cả trạm, phạm vi thu hồi sẽ thành toàn bộ trứng đóng gói trong ngày, kể cả trứng của các chuồng không liên quan. Định danh lô càng chính xác thì thiệt hại càng nhỏ. Đây là lý do kinh tế để đầu tư vào khâu ghi chép, ngoài nghĩa vụ pháp lý.

Triển khai theo thứ tự nào để không tốn kém?

Không cần mua máy in vỏ trứng ngay ngày đầu. Có thể đi theo thứ tự sau:

Giai đoạnViệc làmĐiều kiện để chuyển sang bước tiếp
1. Chuẩn hóa mã lôĐịnh nghĩa lô (trại, chuồng, ngày đẻ, ca), phiếu lô theo khay ở kho trạiMọi khay trứng rời trại đều có mã lô
2. Nhãn hộp và QRĐăng ký mã GS1, gán GTIN cho từng quy cách, in mã lô, ngày và QR trên hộpHộp ra khỏi trạm luôn khớp với một lô
3. Liên kết logisticsNhãn thùng và pallet (SSCC), phiếu giao điện tử gắn lôTruy được từ một lô đến từng điểm bán
4. In mã lên vỏTích hợp máy in phun vào máy phân loại, đồng bộ với lô đang chạyMã trên vỏ luôn khớp mã trên hộp

Giai đoạn 1 gần như không tốn tiền thiết bị, nhưng lại quyết định chất lượng của mọi bước sau. Giai đoạn 4 đặc biệt có ích khi trứng được bán rời ở chợ hoặc quầy tự chọn, nơi quả trứng tách khỏi hộp. Nó cũng có ích khi thương hiệu bị làm giả bằng cách đóng lại trứng không rõ nguồn gốc vào hộp thật.

Câu hỏi thường gặp

Việt Nam có bắt buộc in mã lên vỏ trứng không?

Tính đến 10/10/2026, trong các văn bản đã rà soát, Việt Nam chưa bắt buộc in mã lên từng quả trứng như EU hay Đài Loan. Nghĩa vụ chính là lưu hồ sơ truy xuất một bước trước – một bước sau theo Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT và ghi nhãn trên bao bì theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP.

Mã lô trứng nên dựa vào ngày đẻ hay ngày đóng gói?

Nên dựa vào ngày đẻ, vì đây là mốc tính tuổi trứng và hạn sử dụng. Ngày đóng gói vẫn nên ghi riêng, chẳng hạn bằng GS1 AI (13), để biết trứng đã nằm bao lâu trước khi qua trạm phân loại.

In mã QR lên hộp trứng có thay được nhãn giấy không?

Không hoàn toàn. Nghị định 37/2026/NĐ-CP cho phép nhãn điện tử thay một phần nhãn vật lý, nhưng với thực phẩm, các thông tin trọng yếu vẫn phải có trên nhãn vật lý. Mã QR nên được xem là lớp bổ sung để tra cứu chi tiết theo lô.

Một lô trứng nên lớn đến đâu?

Theo nguyên tắc, lô nên đồng nhất về nguồn gốc và thời điểm, thường là một chuồng hoặc đàn trong một ngày đẻ. Lô càng nhỏ thì phạm vi thu hồi càng hẹp, nhưng chi phí ghi chép tăng lên, nên mỗi trại cần tự cân đối.

Siêu thị cần những thông tin gì về lô trứng?

Tối thiểu là mã lô, ngày sản xuất hoặc ngày đẻ, hạn sử dụng trên hộp, khớp với phiếu giao của nhà phân phối. Như vậy khi có thông báo thu hồi, cửa hàng chặn được đúng hộp liên quan thay vì phải hạ toàn bộ trứng trên kệ.

Nguồn tham khảo

#truy xuất nguồn gốc#trứng gia cầm#mã lô#in mã vỏ trứng#GS1#mã QR#Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT#chuỗi cung ứng thực phẩm

Tác giả

VNCX Team

Chia sẻ bài viết

ZaloFacebook

Bắt đầu với VNCX

Cần tư vấn giải pháp truy xuất nguồn gốc?

Đội ngũ VNCX sẵn sàng hỗ trợ bạn triển khai truy xuất nguồn gốc

Xem tất cả

Truy xuất nguồn gốc

Cung cấp hồ sơ truy xuất nguồn gốc thực phẩm trong 24 giờ theo Thông tư 63/2026/TT-BCT: cơ sở cần chuẩn bị gì

Từ 15/11/2026, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi Bộ Công Thương phải cung cấp hồ sơ truy xuất nguồn gốc trong 24 giờ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Bài viết nêu cần lưu những gì, lưu bao lâu và cách tổ chức dữ liệu để kịp thời hạn.

Truy xuất nguồn gốc

Phụ huynh kiểm tra nguồn gốc thực phẩm bữa ăn bán trú bằng cách nào: thực đơn, nhà cung cấp và mã QR

Từ năm học 2026-2027, trường học phải công khai hằng ngày thực đơn, đơn vị cung cấp, hóa đơn nhập hàng và ảnh khay ăn. Bài viết hướng dẫn phụ huynh đọc ba lớp thông tin này, phân biệt mã QR có giá trị truy xuất với mã QR chỉ để trưng bày, và chỉ ra nhà cung cấp cần chuẩn bị dữ liệu gì.